
“Một cặp sẻ ngô đang đi kiếm mồi cùng nhau ở gần một bụi cây. Khi tới bụi cây, chàng rẽ qua một bên, còn nàng rẽ qua bên kia. Ngay khi vừa thoát khỏi tầm nhìn của chàng, nàng sẻ cái lập tức bay ù xuống vạt đất kế bên để tình tự và ân ái với một tay sẻ ngô khác vốn đã núp ở đó từ lâu. Ngay sau khi xong việc, nàng quay trở lại đoàn tụ cùng chú chim đực ban đầu và coi như không có chuyện gì xảy ra.”
Đó là đoạn văn mô tả chi tiết tình huống quan sát được của nhà tự nhiên học người Anh Nick Davies cách đây vài chục năm. Đã từ khá lâu, chuyện ngoại tình của các loài chim đã không còn là chuyện lạ đối với khoa học. Một nghiên cứu sử dụng DNA thu thập được từ các gia đình nhà chim hồi năm 1980s đã cho thấy chuyện các ông bố và con trong cùng một tổ lại không có cùng mẫu DNA là chuyện thường gặp. Theo nghiên cứu này thì rõ ràng là các nàng chim không được trung thủy cho lắm[1].
Đó là chuyện của các loài chim, còn chuyện của loài người thì sao? Gần đây tôi được entertained bởi một loạt các tranh luận khá ầm ĩ về tính trung thủy của đàn ông Việt nam so với quốc tế, bắt nguồn từ bài của chị Trúc Quỳnh trên Vnexpress. Tôi nảy ra ý định làm một so sánh thống kê về tình trạng ngoại tình xem thử đàn ông Việt có lăng nhăng hơn những người anh em ở nước ngoài hay không. Và nếu hơn thì thử lý giải về mặt institutional (thể chế) xem tại sao lại có sự khác biệt này. Khi giải thich bằng thể chế, tôi gạt ra ngoài các priori assumptions như tiêu chuẩn đạo đức – là cái không đo đếm được – để chỉ phân tích những yếu tố về thể chế - là những thứ có thể phân tích.
Ngoại tình kiểu Mỹ
Cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton đương nhiên là biểu tượng mà hầu như ai cũng biết khi đề cập tới ngoại tình kiểu Mỹ. Trong vụ này, Bill ban đầu đã trối đây đẩy chuyện ông ta có quan hệ với Monica Lewinski. Tuy nhiên, sau khi bằng chứng về tinh dịch của ông này trên váy của Monica được công bố, kèm theo việc Monica khai trước tòa rằng tổng thống đã nhồi hộp đựng cigar vào cửa mình của cô thì Bill đã buộc phải thừa nhận chuyện ngoại tình của ông.
Đấy là chuyện của tổng thống. Về công chúng Mỹ nói chung thì có nhiều thống kê khác nhau về tỉ lệ ngoại tình ở nước này. Thống kê giật gân nhất là của Thomson (1983). Ông này kết luận rằng “tỉ lệ ngoại tình ở đàn ông có gia đình ít nhất cũng khoảng 50%, và tỉ lệ này ở phụ nữ có gia đình cũng đang tiếp cận rất nhanh tới mức này[2]. Đây là một khám phá đáng kinh ngạc, nếu không muốn nói là kinh hoàng.
Rất may là sau Thomson còn có nhiều điều tra khác đưa ra những kết quả thấp hơn đáng kể so với kết quả của ông này. Điều tra của báo Parade Magazine hồi tháng Hai, 1994 cho biết tỉ lệ ngoại tình ở nam giới có gia đình là 19% và ở phụ nữ có gia đình là 15%. Năm 1997, Michael W. Wiederman tiến hành một khảo sát khác và đưa ra kết quả gần tương tự với của Parade Magazine: 22.7% đàn ông có vợ cho biết đã từng ngoại tình và 11.6% phụ nữ có chồng cho biết đã từng lăng nhăng với người khác. Tỉ lệ này đặc biệt cao trong số nhóm những người đã từng ly dị, hoặc trong số những người Mỹ da đen. Thống kê gần đây của Trung tâm Nghiên cứu về Quan điểm Quốc gia (NORC) ở Mỹ cũng khẳng định tỉ lệ giống với tỉ lệ mà Wiederman tìm được.
Ngoại tình kiểu Việt
Lương Quốc Dũng có lẽ là trường hợp nổi đình đám nhất về ngoại tình ở Việt nam. Ông là người có gia đình và là cán bộ cao cấp trong Chính phủ (Phó chủ nhiệm UBTDTT). Ông bị bắt hồi đầu năm 2004 về tội hiếp dâm trẻ em[3] và bị kết án 8 năm tù giam. Trường hợp của ông nổi bật không phải vì ngoại tình mà vì ông đã mua dâm trẻ vị thành niên.
Trên quy mô toàn xã hội, cho đến nay, hầu như không có điều tra chính thức nào về tỉ lệ ngoại tình ở Việt Nam đương đại. Nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Thủy và Joshua Kretchmar[4], hay nghiên cứu của Harriet M. Phinney[5] là vài ngoại lệ hiếm hoi. Bùi và Kretchmar khảo sát tình trạng ngoại tình trong các nhóm công nhân xây dựng từ quê ra tỉnh. Nghiên cứu của họ cho thấy các nhóm công nhân cùng quê sinh hoạt chung với nhau có tỉ lệ ngoại tình thấp hơn những nhóm công nhân có ít liên hệ ràng buộc với quê quán của họ. Điều này được các tác giả lý giải là do khả năng bị phát hiện thấp hơn ở nhóm thứ hai so với nhóm đầu.
Có một sự thực là Việt Nam đang trải qua một cuộc cách mạng thầm lặng – cách mạng tình dục[6]. Các tiêu điểm của truyền thông về đến chủ đề này thuộc về những vụ scandals liên quan tới các đoạn videos và hình chụp cảnh làm tình của giới người mẫu, ca sĩ, diễn viên và học sinh. Tuy nhiên, các dòng chảy nền của cuộc cách mạng tình dục ở quy mô toàn xã hội là: (1) độ tuổi trung bình để lập gia đình tăng nhanh; (2) giới trẻ mạnh mẽ hơn trong việc thể hiện tình cảm nơi công cộng và trên internet; (3) quan hệ tình dục trước hôn nhân trở nên bình thường; và (4) tình trạng ngoại tình ngày càng phổ biến.
Phinney có một nghiên cứu đăng trên Tạp chí Y tế Công cộng Hoa Kỳ với tựa đề rất Việt nam “Cơm không thể thiếu, nhưng mà chán, bạn phải có thêm tí Phở”[7] Ông này trích dẫn một nguồn số liệu cho biết tỉ lệ ngoại tình của nam giới ở Việt nam vào khoảng 40%. Trong số 22 người mà ông phỏng vấn, có 7 người thừa nhận đã từng ngoại tình. Ông cũng trích dẫn ý kiến của các chuyên gia y tế ở Việt nam rằng con số 40% nêu trên có thể chưa phản ánh đúng thực chất của tình trạng ngoại tình ở Việt nam hiện nay.
Hai kiểu ngoại tình
Ngoại tình có thể được chia làm 2 loại: (1) quan hệ với gái mại dâm; và (2) quan hệ bồ bịch lâu dài. Mại dâm ở Việt nam vẫn được coi là bất hợp pháp, tuy nhiên nó đã phổ biến tới mức cách đây vài năm, giới làm luật Việt nam đã có một cuộc tranh luận (nhỏ) về chuyện có nên hợp pháp hóa thị trường này hay không. Theo Phinney, ở Việt nam có“một số lượng lớn đàn ông từ đủ mọi lứa tuổi (trẻ, trung niên, và già) từ sinh viên, nhân viên công sở, công an, công nhân xây dựng và quan chức nhà nước mua dâm từ gái mại dâm.”
Kiểu ngoại tình thứ hai bao gồm cả các mối quan hệ lâu dài giữa nam nữ làm cùng công sở. Phinney viết về tình trạng này ở Việt Nam: “Các đôi liên lạc với nhau bằng di động, hẹn gặp đâu đó để ăn chưa hay sau khi tan sở. Việc cùng nhau đi ăn trưa rồi đáp vào nhà nghỉ hoặc cafe ôm để hưởng lạc sau bữa chưa đã trở thành mốt.” Theo Phinney, kiểu ngoại tình này cũng bao gồm cả các mối quan hệ xếp – thư ký vốn khá phổ biến ở công sở và doanh nghiệp Việt Nam.
Kinh tế học về ngoại tình
Kinh tế học từ lâu đã phân tích về vấn đề ngoại tình. Năm 1978, Ray C. Fair, giáo sư kinh tế của Đại học Yale đã có bài đăng trên Journal of Political Economy trình bày một lý thuyết về ngoại tình[8]. Từ đó đến nay có nhiều nghiên cứu khác về vấn đề này. Gần đây nhất, Kitae Sohn của đại học SUNY (State University of New York) ở Albany cũng có bài nghiên cứu về quan hệ giữa ngoại tình và sống độc thân[9] đăng trên Economics Bulletin hồi tháng Tư, 2008.
Tôi không có ý định giới thiệu lại các lý thuyết này mà chỉ muốn phân tích về lựa chọn của một người đã có gia đình trước vấn đề ngoại tình. Lựa chọn này chỉ dựa trên các tính toán chi phí – lợi ích, và các yếu tố này chỉ chịu sự ảnh hưởng của các đặc điểm về thể chế của xã hội mà người đó sinh sống.
Dù ở bất kỳ xã hội nào, ngoại tình là một hành vi đi ngược lại với các khế ước về gia đình. Vì thế, nó đều bị lên án, tuy ở mức độ khác nhau. Kẻ ngoại tình có thể phải đối mặt với các các hình phạt cả về thể chất, tài chính lẫn tinh thần. Ở một số xã hội hà khắc thì kẻ ngoại tình có thể bị ném đá đến chết. Ở các xã hội hiện đại, ngoại tình không bị coi là tội phạm (criminal), tuy nhiên, trong trường hợp xảy ra ly dị thì người ngoại tình thường bị tòa án trừng phạt về mặt tài chính. Khi ngoại tình bị phát hiện, kẻ ngoại tình cũng có thể bị xã hội lên án, nguyền rủa, hoặc sẽ gặp khó khăn trong việc thăng tiến nghề nghiệp. Ngoài ra, kẻ ngoại tình cũng chịu rủi ro bị mắc phải các bênh STD (lây truyền qua đường tình dục).
Tuy nhiên, ngoại tình không phải lúc nào cũng bị phát hiện. Trong một số trường hợp, rủi ro bị phát hiện là rất nhỏ, trong một số trường hợp khác, rủi ro này cao hơn nhiều. Chẳng hạn bồ bịch với người cùng công sở có khả năng bị phát hiện rất cao trong khi quan hệ chớp nhoáng với người bán dâm (nam/nữ) trong một chuyến đi thương mại dài ngày ở nước ngoài thì lại khó bị phát hiện.
Ở vế bên kia của phương trình là các lợi ích có được từ việc ngoại tình. Lợi ích hiển nhiên là sexual pleasure (SP). Theo quy luật tự nhiên, SP là cái liên tục giảm dần theo thời gian trong một mối quan hệ cố định nhưng lại luôn bắt đầu mới tinh khi thực hiện với một đối tượng mới. Ngoài SP, có những lợi ích khác được nhiều người phân tích như tìm lại cảm giác yêu đương đã mất, thỏa mãn cảm giác chinh phục, thoát khỏi các bế tắc hoặc buồn chán trong cuộc sống hàng ngày..v.v.
Như vậy, nhìn từ góc độ chi phí – lợi ích thì việc ngoại tình hay không phụ thuộc vào việc lợi ích thu được so với rủi ro bị phát hiện và trừng phạt như thế nào. Tuy nhiên, không phải lúc nào một cá nhân cũng có cơ hội để quyết định ngoại tình hay không. Sự sẵn có của các cơ hội ngoại tình là yếu tố bản lề. Nếu các cơ hội này không tồn tại thì bài toán chi phí lợi ích trên đây sẽ không bao giờ xuất hiện.
Tại sao ngoại tình ở Việt nam cao?
Các bằng chứng thống kê có được không đủ để kết luận tình trạng ngoại tình ở Việt nam cao hơn ở Mỹ. Tuy nhiên, cứ giả sử rằng tỉ lệ ngoại tình ở Việt nam cao hơn so với một số nước khác, trong đó có Mỹ, câu hỏi tiếp theo sẽ là: tại sao? Dưới đây chỉ là vài trong số nhiều vấn đề khác biệt về thể chế.
Nhóm 1: Các cơ hội để ngoại tình:
Thể chế 1- Thị trường mại dâm: Việt nam có một thị trường mại dâm năng động và rẻ tương đối so với thu nhập của dân chúng. Trong khi đó thị trường mại dâm ở Mỹ hầu như không tồn tại, ngoại trừ ở một số thành phố lớn như New York, LA, Las Vegas (Rodhe Island và Nevada là hai tiểu bang cho phép kinh doanh mại dâm, tuy nhiên các quy định về kinh doanh mại dâm của 2 nơi này tương đối chặt chẽ). Người Việt, trừ trường hợp sống ở các vùng hẻo lánh, đều có thể dễ dàng tiếp cận dịch vụ mại dâm ở khắp nơi từ Nam ra Bắc.
Thể chế 2 – Bất bình đẳng thu nhập và bất bình đẳng cơ hội: Việc những người thành đạt, có thu nhập cao ở thành thị có bồ nhí là chuyện phổ biến không chỉ ở Việt nam mà ở Châu Á nói chung. Một trong những nguyên nhân chính của vấn đề này là sự bất bình đẳng nghiêm trọng trong thu nhập, đặc biệt là giữa nông thôn và thành thị. Nghiêm trọng hơn nữa là sự bất bình đẳng về cơ hội. Điều này đẩy nhiều phụ nữ trẻ vào chỗ sẵn sàng chấp nhận làm bồ nhí của những người đàn ông giàu có để có được cơ hội học hành/buôn bán và có thu nhập cao hơn. Vấn đề này ở Mỹ không phải không có, tuy nhiên nó chỉ xuất hiện ở các nhóm người giàu có đặc biệt.
Sự sẵn có của dịch vụ mại dâm kèm theo giá cả phải chăng là yếu tố số 1 về tỉ lệ ngoại tình cao ở Việt Nam. Việc bất bình đẳng nghiêm trọng về thu nhập và cơ hội là yếu tố góp phần hình thành thị trường mại dâm ở Việt nam, và đồng thời tạo ra một lớp người sẵn sàng đóng vai trò bồ nhí của những người giàu ở đô thị.
Nhóm 2: Chi phí thấp
Thể chế 1 revisited – Thị trường mại dâm: Ngoài nguồn cung ứng dịch vụ phong phú, giá cả dịch vụ ở Việt nam cũng rẻ hơn tương đối. Theo các số liệu về giá cả mà báo chí ở Việt nam đăng tải thì giá dịch vụ này giao động từ mức 6-70 ngàn tới mức 4-500 ngàn đồng (không tính các dịch vụ cao cấp tính bằng đô la do các chân dài cung cấp). Thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam là khoảng $820 một năm, ở thành thị là khoảng $2000 một năm. Nếu lấy mức giá dịch vụ trung bình là 250 ngàn thì một lần mua dâm ở Việt Nam tốn khoảng 8% thu nhập theo tháng ở thành thị.
Không có thống kê chính thức nào về giá cả trung bình của dịch vụ này. Tuy nhiên, theo các quảng cáo dịch vụ trên các trang rao vặt hàng đầu như craigslist.org thì mức giá trung bình khoảng $200. Thu nhập bình quân đầu người ở Mỹ năm 2007 là $38,600[10]. Tính riêng ở đô thị thì thu nhập bình quân đầu người năm 2007 cao nhất cũng chỉ $40,000. Nếu tính mức thuế và bảo hiểm xã hội 35% thì thu nhập sau thuế bình quân đầu người ở các vùng đô thị phồn thịnh nhất ở Mỹ cũng chỉ là $26,000 một năm. Như vậy giá trung bình cho một lần mua dâm ở Mỹ hết khoảng 9.5% thu nhập theo tháng, đắt hơn tương đối so với Việt nam.
Thể chế 3 – Thị trường nhà nghỉ/khách sạn: Mức độ sẵn có của hệ thống nhà nghỉ/khách sạn ở Việt nam là hết sức ấn tượng. Ở các khu đô thị lớn, hầu như không có góc phố nào không có nhà nghỉ/khách sạn. Hệ thống này có kiểu tính giá riêng theo giờ phục vụ đặc biệt cho các đối tượng cần quan hệ tình dục (mại dâm, ngoại tình hoặc các đôi tình nhân). Mức giá trung bình chỉ khoảng 50 ngàn một giờ, bằng 1.8% thu nhập theo tháng. Trong khi đó, giá hệ thống khách sạn/nhà nghỉ ở các thành phố ở Mỹ đặc biệt đắt đỏ), không cho thuê theo giờ và không sẵn có như ở Việt nam. Giá khách sạn ở các thành phố lớn ở Mỹ là khoảng $100 tới $300 một ngày, bằng 5% tới 15% thu nhập theo tháng.
Thế chế 4 – Quan niệm xã hội về ngoại tình: Ở Việt nam, nhiều người không quan niệm mua dâm là hành vi ngoại tình (Phinney, đã dẫn). Đa số đàn ông thông cảm cho cánh đàn ông về việc này. Trong trường hợp quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân, họ cũng không gay gắt với đàn ông như đối với phụ nữ. Phần lớn dân Việt nam vô thần. theo Khổng giáo hoặc Phật giáo, và vì thế không có một nền tảng đạo đức/tôn giáo rõ ràng để lên án hành vi ngoại tình của đàn ông.
Thể chế 5 – Kinh tế kém phát triển và sự phụ thuộc của phụ nữ: Tình trạng thu nhập thấp dẫn tới việc nuôi con một mình là đặc biệt khó khăn. Kèm theo đó là thị trường hôn nhân cho những người đã li dị ở Việt nam là rất hạn hẹp, nếu không muốn nói là không tồn tại. Hai yếu tố này dẫn tới việc phụ nữ đã lập gia đình, đặc biệt khi đã có con, không muốn li dị chồng mình ngay cả khi việc chồng ngoại tình bị phanh phui. Điều này đến lượt nó lại làm giảm chi phí của ngoại tình ở đàn ông. Vấn đề này cũng tồn tại ở mức độ nhất định trong xã hội Mỹ - tập trung chủ yếu ở các cộng đồng có dân trí và thu nhập đặc biệt thấp.
Nhóm 3: Rủi ro thấp
Thể chế 6 – Chính sách của nhà nước về mại dâm: Chính quyền liên bang và tiểu bang Mỹ quản lý vấn đề mại dâm tương đối tốt. Hành vi mua dâm ở Mỹ có thể bị phạt tù lên tới từ 1 tới 3 năm và/hoặc khoản tiền phạt lên tới $25,000. Kinh doanh nhà thổ có thể bị phạt tù tới 20 năm và/hoặc tiền phạt lên tới $125,000. Riêng năm 2003, cảnh sát Mỹ bắt 73,800 người, năm 2004 bắt 86,100 người liên quan tới mại dâm[11].
Ở Việt nam, các cuộc bố ráp bắt gái mại dâm diễn ra thường xuyên. Gái mại dâm bị bắt, đưa đi cải tạo một thời gian rồi lại quay lại hành nghề. Trong khi đó, người đi mua dâm chỉ bị phạt hành chính rồi được thả.
Thể chế 7 – nền kinh tế tiền mặt và thu nhập ngoài lương. Ở Việt nam, các khoản thu nhập ngoài lương rất phổ biến. Các cặp vợ chồng khó lòng kiểm soát được thu nhập của bạn đời của mình. Vì thế, họ cũng không thể phát hiện ra bạn đời của mình đã đi mua dâm hoặc đi thuê nhà nghỉ. Ở Mỹ, trái lại, đa phần các khoản thu nhập được trả qua ngân hàng, vợ chồng có tài khoản chung, và vì thế việc lấy tiền từ tài khoản chung ra để đi mua dâm và/hoặc thuê nhà nghỉ/khách sạn để ngoại tình là việc khó khăn hơn rất nhiều.
Thể chế 8 – giờ nghỉ/ngủ trưa: Việt nam có một thể chế kỳ lạ mà Mỹ không có, đó là giờ ngủ/nghỉ trưa kéo dài. Đương nhiên người lao động Mỹ có quyền nghỉ ăn trưa, nhưng giờ nghỉ này thường chỉ kéo dài từ 30 phút tới 1 giờ không hơn. Với giao thông đô thị phức tạp, người Mỹ khó có thể sử dụng giờ nghỉ trưa này để “cùng nhau đi ăn chưa rồi đáp vào nhà nghỉ hoặc cafe ôm để hưởng lạc” – theo cách diễn đạt của Phinney.
Rõ ràng, việc nhà nước không triệt để với các đối tượng mua dâm, tình trạng tiêu tiền không bị bạn đời kiểm soát và khả năng hành lạc chớp nhoáng trong các giờ nghỉ chưa hoặc lúc tan sở làm cho rủi ro bị phát hiện khi ngoại tình là đặc biệt thấp.
Tại sao đàn ông Việt ngoại tình?
Tổng kết lại, có nhiều lý do để đàn ông (và phụ nữ) ngoại tình. Phần trên chỉ liệt kê ra các vấn đề về thể chế. Điều đó không có nghĩa các lý do phi thể chế không tồn tại. Thí dụ, có thể đàn ông Việt nam không thực sự lăng nhăng hơn so với đàn ông ở nơi khác từ lúc bẩm sinh.
Tuy nhiên, hầu như không thể xác định được là các lý do phi thể chế như vậy có tồn tại thật hay không. Và dù chúng có tồn tại thật thì việc giới hạn các nỗ lực kiểm soát và chính sách ở các vấn đề thể chế cũng có thể làm giảm đáng kể tình trạng ngoại tình vốn đang được coi là rất phổ biến ở Việt Nam hiện nay.
Và còn rất nhiều lý do về vấn đề nay, qua lướt web thu thập để anh em trao đổi và rộng đường thảo luận
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét