Thứ Tư, 24 tháng 9, 2008

THÔNG BÁO TỪ TỔNG THƯ KÝ


Kính mời các thành viên câu lạc bộ FTC
Nhân dịp sinh nhật của cháu TITI, TTK mong muốn mời anh em đến khu sinh thái CỎ XANH tại Vân Trì vào ngày 28/09/2008.
Với các chương trình giao lưu giữa các gia đình của hội viên CLB cùng các hoạt động bắt buộc về tennis, câu cá, bơi lội.
Rất hân hạnh được đón tiếp.
Tổng Thư Ký
PS. Rất mong anh em thu xếp và xác nhận cho Trưởng Ban Chuyên Môn (lo tổ chức giao hữu) hoặc Trưởng Ban Điều Độ, Ban Tài Chính để lo hậu cần cho sự kiện thật chu đáo. Xin chân thành cảm ơn

Thứ Ba, 23 tháng 9, 2008

10 bí mật của các triệu phú Mỹ

Thành công của tỉ phú Donald Trump được các triệu phú Mỹ ngưỡng mộ - Ảnh: Reuters

TT - 1. "Bạn có thể nghĩ rằng tôi giàu có, nhưng tôi thật sự không nghĩ vậy". Hiện có khoảng 10 triệu gia đình Mỹ thuộc CLB triệu đôla đang sở hữu trị giá thật trên 1 triệu USD, chưa kể giá trị tài sản khác như nhà cửa.

Tuy nhiên, theo kết quả cuộc khảo sát gần đây của Tổ chức Fidelity (Mỹ), chỉ 8% số triệu phú nghĩ rằng họ "rất" hoặc "cực kỳ” giàu có, trong khi có đến 19% lại cho rằng "tôi không giàu chút nào cả”!

Họ lo lắng về việc chăm sóc sức khỏe, lúc về hưu và sẽ phải duy trì lối sống thế nào.

Thực tế nhiều triệu phú vẫn không có đủ tiền cho những giải trí sang trọng như đóng 300.000 USD mỗi năm để làm thành viên CLB chơi golf. Ba thập niên trước, 1 triệu USD là số tiền khá lớn và có thể tạo ra quyền lực cho người sở hữu số tiền đó, nhưng đến thời điểm này bạn cần có ít nhất 3,6 triệu USD để được xem là "thật sự có quyền lực" về tài chính. Tuy nhiên, theo ông Gail Graham, chuyên viên quản lý tài sản của Tổ chức Fidelity, con số "tạo cảm giác là người thật sự giàu có” cho một triệu phú ngày nay phải là 23 triệu USD.

2. "Tôi đi mua hàng ở Wal-Mart..."

Theo kết quả khảo sát năm 2007 đối với các cá nhân có sở hữu tài chính ở mức cao do American Express và Tập đoàn Harrison Group công bố, khoảng 80% triệu phú sống cần kiệm. Họ có thể không mua khăn giấy giá 99 cent nhưng sẽ chờ mua hàng hiệu giảm giá, săn tìm các cơ hội mua giá hời và thậm chí cắt các coupon giảm giá từ báo chí để sử dụng cho các lần đi mua sắm.

Don Crane, chủ một doanh nghiệp nhỏ ở Santa Rosa (bang California), là một ví dụ. Crane đã công nhận mình sở hữu tài sản hơn 1 triệu USD nhưng sống rất tiết kiệm. Hai vợ chồng Crane thu thập các coupon giảm giá trên báo và "chúng rất hữu dụng khi bạn mua bất cứ gì cho cuộc sống hằng ngày".

3. "...Nhưng chúng tôi không làm giàu bằng thói bủn xỉn"

Làm cách nào để tham gia CLB các triệu phú? Bạn có thể mua cổ phiếu, bất động sản, chơi bài ở Las Vegas hoặc điều hành công việc kinh doanh của mình. Theo khảo sát của Tập đoàn Harrison, đó là con đường để gia nhập CLB triệu phú của hơn 50% số thành viên. Chỉ 3% thành viên giàu có nhờ hưởng thừa kế và 1/3 là các nhà kinh doanh chuyên môn hoặc làm việc tại các tập đoàn lớn trên thế giới.

Hầu hết thành viên CLB triệu phú đều là những người "biết sử dụng khôn ngoan các khoản nợ". Dùng nợ để thiết lập công việc kinh doanh, tránh lãi suất cao từ các món nợ của thẻ tín dụng, và dùng tài sản để hỗ trợ tài chính nếu tiền mặt không đáp ứng đủ. Thường giá trị nhà cửa chỉ đại diện khoảng 11% tổng giá trị tài sản của các triệu phú.

Ông Jim Bell - chủ tịch Công ty tư vấn Bell Investment Advisors - tiết lộ những người muốn giàu có một cách nghiêm túc luôn muốn có một khoản nợ. Ví dụ nhà của anh ta trị giá 1,5 triệu USD, nhưng anh ta mượn nợ 900.000 USD để mua nó và không hề vội vã trong việc trả nợ, vì đó là một trong những lý do anh ta được khấu trừ thuế.

4. "Tôi có người giữ chỗ cho tất cả mọi thứ"

Những "người giữ chỗ" hiện đại có nhiệm vụ đáp ứng mọi nhu cầu các triệu phú muốn: đặt chỗ nhà hàng, hẹn giờ đi spa làm đẹp, tìm kiếm những nhà hàng với món ăn độc đáo, và thậm chí dịch vụ giữ chỗ cả trong lĩnh vực y tế khi các triệu phú không muốn xếp hàng chờ tại các phòng cấp cứu... Mức phí trung bình của người giữ chỗ là 25 USD/giờ.

5. "Bạn không thể trở nên giàu có nếu không tàn nhẫn"

Nhiều triệu phú đã thú nhận họ phải "tàn nhẫn trong kinh doanh và không được nản lòng khi thất bại". Chẳng hạn như triệu phú Rockefeller đã đe dọa các đối thủ cạnh tranh về khả năng phá sản nếu không bán công ty cho ông. Hoặc Bill Gates đã phải "cứng rắn" thế nào trên con đường xây dựng Microsoft trong thế giới phần mềm. Hầu hết triệu phú không có thời gian nhiều cho gia đình.

6. "Thuế là phần nhỏ”

Hầu hết triệu phú đều đóng thuế. Theo thông tin của văn phòng thu nhập nội địa, trong năm 2005, thực tế số tiền thuế các triệu phú đóng chiếm gần 40% tổng thuế thu nhập liên bang của Mỹ với ước tính khoảng 368 tỉ USD.

Các triệu phú kiếm lợi nhuận từ đầu tư cổ phiếu và các hình thức khác. Với thu nhập từ các hình thức khác này, họ chỉ phải đóng thuế 15% so với 25% thuế đối với lương thuộc hàng trung cấp. Ngoài ra, những người thu nhập cao này đóng thuế an ninh xã hội chỉ tính trên mức thu nhập 97.500 USD đầu tiên mà thôi. Tuy nhiên, phần "tiết kiệm" lớn nhất của họ chính là từ việc sở hữu kinh doanh và các khoản khấu trừ có liên quan đến kinh doanh.

7. "Tôi là sinh viên hạng B"

Theo thống kê của Tập đoàn Harrison, khoảng 59% triệu phú từng học cao đẳng hay đại học và 48% triệu phú có bằng cao hơn đại học. Khi được hỏi chìa khóa thành công, các triệu phú đều đưa ra điều kiện đầu tiên là phải làm việc, kế đến là giáo dục, tính cương quyết và đối xử tôn trọng người khác. Ông Jim Taylor - phó chủ tịch Tập đoàn Harrison - cho biết tất cả triệu phú đều nhất trí rằng những gì tiếp thu trong lớp học không quan trọng bằng cách biết học cách nghiên cứu và sống có kỷ luật.

8. "Xe tôi là xe thuê”

Theo kết quả khảo sát của Công ty Price & Asscociates, hơn 50% triệu phú đã lên kế hoạch thuê các sản phẩm cao cấp trong 12 tháng tới. Đứng đầu danh sách là túi xách rồi đến ôtô, đồ trang sức, đồng hồ và các tác phẩm nghệ thuật. Nhiều thành viên CLB triệu phú cho rằng không lý do gì phải mua túi xách hiệu Versace trị giá 3.000 USD để rồi không đầy vài tháng sau trở thành lỗi mốt, trong khi họ chỉ cần bỏ ra 175 USD để thuê nó trong một tháng.

Cũng lý luận như thế, nhiều triệu phú đã chọn cách đóng 25.000 USD một năm để được quyền lái chiếc Ferrari bóng loáng chạy vi vu các buổi cuối tuần, thay vì bỏ ra 250.000 USD để sở hữu nó.

9. "Tiền có thể mua được hạnh phúc"

Điều này nghe có vẻ trái ngược với ý kiến những người không quan tâm đến tiền bạc. Nhưng theo khảo sát của Tập đoàn Harrison, khoảng 70% triệu phú cho rằng tiền tạo ra nhiều hạnh phúc cho họ. Họ cười thường xuyên hơn và cảm thấy được đối xử khác hơn.

10. "Bạn quan tâm đến chỉ số Dow Jones, còn tôi chỉ lo lắng việc giữ không thua kém các thành viên nhà tỉ phú Donald Trump"

Nhà xã hội học Glenn Firebaugh của Đại học Pennsylvania cho rằng những gì làm con người hạnh phúc không phải là họ kiếm được bao nhiêu mà là họ kiếm thế nào so với những người cùng đẳng cấp. Thực tế khoảng 40% các nhà triệu phú lo lắng mức sống tiêu chuẩn của họ sẽ giảm khi về hưu và tiền của họ sẽ tiêu trước khi họ qua đời.

Rõ ràng thỏa mãn của con người không có điểm dừng. Và vấn đề ở chỗ đó. Các triệu phú luôn ngước nhìn lên và nghĩ rằng sẽ tốt hơn nếu họ ở đẳng cấp đó. (nguồn CNN Money)

Các bạn nghĩ thế nào ?

Thứ Hai, 22 tháng 9, 2008

VC in FTC


Introduction to Venture Capital

From: pricew, 2 years ago





Guest lecture given on March 6th 2007 for EE 203, the Entrepreneurial Engineer, Stanford University


SlideShare Link

Chủ Nhật, 21 tháng 9, 2008

Văn t......


Hỡi ôi!
Thị trường sụp đổ,
Lòng người đau khổ
Ki cóp bằng lao động khó nhọc mười năm
Tiền rủng rỉnh há cũng nổi danh
Mà một thoáng lên sàn
Tiền mất, tật mang tiếng vang như mõ
Nhớ khi xưa:
Chịu khó làm thêm
Tiền không nhiều
Nhưng cũng đủ đưa vợ đi xem phim, ca nhạc
Bản tính thật thà
Việc lăng xê, làm giá
Chẳng bao giờ biết!
Sàn chứng khoán đã mở nhiều năm
Chẳng muốn tham gia
Ghét trò buôn lận bán gian
Như nhà nông ghét cỏ!
Nào ngờ thị trường nổi lên:
Mỗi ngày kiếm năm phần trăm
Hỉ hả tiền vào ra
Vợ con nở mặt, nở mày
Chẳng phải chém rắn, đuổi hươu
Vẫn khen giỏi quá!
Phen này xin ra sức đoạn kình
Chẳng thèm làm thêm, chẳng thèm xin vợ
Mở túi xắn tay đi hốt bạc.
Khá thương thay!
Vốn chẳng phải nhà đầu tư, kinh tế
Theo đuôi đi làm ăn
Chẳng qua chỉ là xe ôm, giúp việc
Thích thì lên sàn
Việc tính toán chẳng bao giờ rõ
Chẳng biết tài chính là gì
Vẫn đặt lệnh nọ kia
Vẫn lời lãi ăn chia đủ cả
Hồng hộc xốc tới, coi tiền như không
Mặc ai cảnh báo nhỏ to
Chen lấn lên sàn, liều mình như chẳng có
Kẻ mua cao, người bán thấp
Làm cho mọi người trợn mắt hồn kinh
Trối kệ tiền của nhà, tiền nợ
Vẫn lăm lăm lời lãi đến cùng
Đâu biết xác phàm vội bỏ
Thị trường mới đỏ có vài phiên
Đã tranh bán với nhau
Tiền thu về không đủ nợ
Nuôi béo mấy thằng Tây
Trăm năm thì trường nói ấy là chữ MÊ
Chẳng bao giờ vinh quy với vợ
Ôi thôi thôi!
Chùa Trấn Quốc năm canh ưng đóng lạnh
Chút lòng tham xin trả lại ánh trăng rằm
Tiền với bạc trôi theo dòng nước đổ
Tiếc tiền quá, mẹ già ngồi khóc trẻ
Não nùng thay, vợ yếu chạy tìm chồng.
Ôi!
Một trận chơi hoang
Ngàn ngày chết dở
Thương vì hai chữ thiêu thân
Cây nhang nghĩa khí thắp nên thơm
Nói một câu quá khổ...
Thương thay nhà đầu tư nhỏ!!!

Thứ Sáu, 19 tháng 9, 2008

Hear on bloger from LB, AIG...


September 18, 2008, 10:04 am

Diamond and Kashyap on the Recent Financial Upheavals

As an economist, I am supposed to have something intelligent to say about the current financial crisis. To be honest, however, I haven’t got the foggiest idea what this all means. So I did what I always do when something related to banking arises: I knocked on the doors of my colleagues Doug Diamond and Anil Kashyap, and asked them for the answers. What they told me was so interesting and insightful that I begged them to write their explanations down for a broader audience. They were kind enough to take the time to do so. In what follows, they discuss what has happened in the financial sector in the last few days, why it happened, and what it means for everyday people.

The F.A.Q.’s of Lehman and A.I.G.
By Douglas W. Diamond and Anil K. Kashyap
A Guest Post

For most of the last 20 years we have been studying banks, monetary policy, and financial crises. So for us the events of the last year have been especially fascinating.

The last 10 days have been the most remarkable period of government intervention into the financial system since the Great Depression. In talking with reporters and our noneconomist friends, we have been besieged with questions about several aspects of these events. Here are a few of the most frequently asked questions with our best answers.

1) What has happened that is so remarkable?

This episode started when the Treasury nationalized Fannie Mae and Freddie Mac on September 8. Their combined assets are over $5 trillion. These firms help guarantee most of the mortgages in the United States. The Treasury only got authority from Congress to take this action in July, and in seeking the authority had insisted that no intervention would be needed.

The Treasury has replaced the management of both companies and will presumably oversee their operation. This decision marked an acknowledgment by the government that the mortgage market and the institutions to make it operate in the U.S. are broken.

On Monday, the largest bankruptcy filing in U.S. history was made by Lehman Brothers. Lehman had over $600 billion in assets and 25,000 employees. (The largest previous filing was WorldCom, whose assets just prior to bankruptcy were just over $100 billion.)

On Tuesday, the Federal Reserve made a bridge loan to A.I.G., the largest insurance company in the world; perhaps best known to most of the world as the shirt sponsor of Manchester United soccer club, A.I.G. has assets of over $1 trillion and over 100,000 employees worldwide. The Fed has the option to purchase up to 80 percent of the shares of A.I.G., is replacing A.I.G.’s management, and is nearly wiping out A.I.G.’s existing shareholders. A.I.G. is to be wound down by selling its assets over the next two years. (Don’t worry, Man U will be fine.) The Fed has never asserted its authority to intervene on this scale, in this form, or in a firm so far removed from its own supervisory authority.

2) Why did these things happen?

The common denominator in all three cases was the ability of the firms to secure financing. The reasons, though, differed in each case.

The Fannie and Freddie situation was a result of their unique roles in the economy. They had been set up to support the housing market. They helped guarantee mortgages (provided they met certain standards), and were able to fund these guarantees by issuing their own debt, which was in turn tacitly backed by the government. The government guarantees allowed Fannie and Freddie to take on far more debt than a normal company. In principle, they were also supposed to use the government guarantee to reduce the mortgage cost to the homeowners, but the Fed and others have argued that this hardly occurred. Instead, they appear to have used the funding advantage to rack up huge profits and squeeze the private sector out of the “conforming” mortgage market. Regardless, many firms and foreign governments considered the debt of Fannie and Freddie as a substitute for U.S. Treasury securities and snapped it up eagerly.

Fannie and Freddie were weakly supervised and strayed from the core mission. They began using their subsidized financing to buy mortgage-backed securities which were backed by pools of mortgages that did not meet their usual standards. Over the last year, it became clear that their thin capital was not enough to cover the losses on these subprime mortgages. The massive amount of diffusely held debt would have caused collapses everywhere if it was defaulted upon; so the Treasury announced that it would explicitly guarantee the debt.

But once the debt was guaranteed to be secure (and the government would wipe out shareholders if it carried through with the guarantee), no self-interested investor was willing to supply more equity to help buffer the losses. Hence, the Treasury ended up taking them over.

Lehman’s demise came when it could not even keep borrowing. Lehman was rolling over at least $100 billion a month to finance its investments in real estate, bonds, stocks, and financial assets. When it is hard for lenders to monitor their investments and borrowers can rapidly change the risk on their balance sheets, lenders opt for short-term lending. Compared to legal or other channels, their threat to refuse to roll over funding is the most effective option to keep the borrower in line.

This was especially relevant for Lehman, because as an investment bank, it could transform its risk characteristics very easily by using derivatives and by churning its trading portfolio. So for Lehman (and all investment banks), the short-term financing is not an accident; it is inevitable.

Why did the financing dry up? For months, short-sellers were convinced that Lehman’s real-estate losses were bigger than it had acknowledged. As more bad news about the real estate market emerged, including the losses at Freddie Mac and Fannie Mae, this view spread.

Lehman’s costs of borrowing rose and its share price fell. With an impending downgrade to its credit rating looming, legal restrictions were going to prevent certain firms from continuing to lend to Lehman. Other counterparties that might have been able to lend, even if Lehman’s credit rating was impaired, simply decided that the chance of default in the near future was too high, partly because they feared that future credit conditions would get even tighter and force Lehman and others to default at that time.

A.I.G. had to raise money because it had written $57 billion of insurance contracts whose payouts depended on the losses incurred on subprime real-estate related investments. While its core insurance businesses and other subsidiaries (such as its large aircraft-leasing operation) were doing fine, these contracts, called credit default swaps (C.D.S.’s), were hemorrhaging.

Furthermore, the possibility of further losses loomed if the housing market continued to deteriorate. The credit-rating agencies looking at the potential losses downgraded A.I.G.’s debt on Monday. With its lower credit ratings, A.I.G.’s insurance contracts required A.I.G. to demonstrate that it had collateral to service the contracts; estimates suggested that it needed roughly $15 billion in immediate collateral.

A second problem A.I.G. faced is that if it failed to post the collateral, it would be considered to have defaulted on the C.D.S.’s. Were A.I.G. to default on C.D.S.’s, some other A.I.G. contracts (tied to losses on other financial securities) contain clauses saying that its other contractual partners could insist on prepayment of their claims. These cross-default clauses are present so that resources from one part of the business do not get diverted to plug a hole in another part. A.I.G. had another $380 billion of these other insurance contracts outstanding. No private investors were willing to step into this situation and loan A.I.G. the money it needed to post the collateral.

In the scramble to make good on the C.D.S.’s, A.I.G.’s ability to service its own debt would come into question. A.I.G. had $160 billion in bonds that were held all over the world: nowhere near as widely as the Fannie and Freddie bonds, but still dispersed widely.

In addition, other large financial firms — including Pacific Investment Management Company (Pimco), the largest bond-investment fund in the world — had guaranteed A.I.G.’s bonds by writing C.D.S. contracts.

Given the huge size of the contracts and the number of parties intertwined, the Federal Reserve decided that a default by A.I.G. would wreak havoc on the financial system and cause contagious failures. There was an immediate need to get A.I.G. the collateral to honor its contracts, so the Fed loaned A.I.G. $85 billion.

3) Why did the Treasury and Fed let Lehman fail but rescue Bear Stearns, Fannie Mae, Freddie Mac, and A.I.G.?

We have already explained why Fannie, Freddie, and A.I.G. were supported. In March, Bear Stearns lost its access to credit in almost the same fashion as Lehman; yet Bear was rescued and Lehman was not.

Bear Stearns was bailed out for two reasons. One was that the Fed had very imperfect information about what was going on at Bear. The Fed was not Bear’s regulator, the amount of publicly available information was limited, and its staff was not versed in all of the ways in which Bear might have been connected to other parts of the financial system.

The second problem was that Bear’s counterparties in many transactions were not prepared for the sudden demise of Bear. A Bear bankruptcy might have triggered a wave of forced selling of collateral that Bear would have given its counterparties. Given the potential chaos that would have resulted from Bear Stearns filing for bankruptcy, the Fed had little choice but to engineer a rescue. In doing so, the Fed argued that the rescue was a rare, perhaps once-in-a-generation, event.

When Bear was rescued, the Fed created a new lending facility to help provide bridge financing to other investment banks. The new lending arrangement was proposed precisely because there were concerns that Lehman and other banks were at risk for a Bear-like run. Since March, the Fed had also studied what to do if this were to happen again; it concluded that if it modified its lending facility slightly, it could withstand a bankruptcy; it made these changes to the lending facility on Sunday night.

Once the Fed had made these changes and determined that it and the others in the market had an understanding of the indirect or “collateral damage” effects of a bankruptcy, it could rely on the protections of the bankruptcy code to stop the run on Lehman, and to sell its operating assets separately from its toxic mortgage-backed assets.

Against this backdrop, if the government had rescued Lehman, it would have repudiated the claim that the Bear rescue was extraordinary; it would have also conceded that in the six months since Bear failed, neither the new facility that it set up nor the other steps to make markets more robust were reliable. Essentially, the Fed and the Treasury would have been admitting that they had lied or were incompetent in stabilizing the financial system — or both.

It was not surprising that they drew the line at helping Lehman. Based on all the publicly available information, this was clearly the right thing to do.

4) I do not work at Lehman or A.I.G. and do not own much stock; why should I care?

The concern for the man on Main Street is not the bankruptcy of Lehman, per se. Rather, it is the collective inability of major financial institutions to find funding.

As their own funding dries up, the remaining financial firms will be much more cautious in extending credit to normal firms and individuals. So even for people whose own circumstances have not much changed, the cost of the credit is going to rise. For an individual or business that falls behind on payments or needs an increase in short-term credit because of the slowing economy, credit will be much harder to obtain than in recent years.

This is going to slow growth. We have not seen this much stress in the financial system since the Great Depression, so we do not have any recent history to rely upon in quantifying the magnitude of the slowdown. A recent educated guess by Jan Hatzius of Goldman Sachs suggests that G.D.P. growth will be just about 2 percentage points lower in 2008 and 2009. But as he explains, extrapolations of this sort are highly uncertain.

5) What does it mean for the Fed and Treasury going ahead?

A reasonable reading of the recent bailouts suggests a simple rule: if a firm is on the verge of collapse and its ties to the financial system will lead to a cascade of chaos, the firm will be saved. A bankruptcy will be permitted only if the failure can be contained.

Assuming the level of chaos is sufficiently high, this dichotomy is probably consistent with the mandate of the Federal Reserve. The rescue of A.I.G., however, raises some major challenges.

One is where to draw the line. A.I.G. was an insurance company, not a bank or a broker dealer, so the Fed had no special relationship with A.I.G. Presumably, if a very large airline or automaker had been involved in the C.D.S. market, the same reasoning that led to the rescue would apply.

A second challenge comes with defining the acceptable level of chaos. We will never be able to find out what would have happened if A.I.G. had been allowed to fail. Furthermore, there are some reasons to believe that even if A.I.G. continues to operate, the fundamental stress in the financial system will remain. If the rescue does not mark a turning point, the bailout may be viewed quite differently down the road.

Should the government intervene if it merely postpones an inevitable adjustment? Creditor runs can make adjustment too fast; blanket bailouts can make adjustment too slow. Has the Fed found the speed that is just right?

Third, now that A.I.G. has been lent to, how will regulation have to be adjusted? Surely the Fed cannot be called upon to provide backstop financing whenever a large member of the financial system runs into trouble. How does it prevent a replay of this scenario, and can it be done without stifling innovation?

6) What does this mean for the markets going ahead?

Letting Lehman go means that the remaining large financial services firms now must understand that they need to manage their own risks more carefully. This includes both securing adequate funding and being prudent about which counterparties to rely upon. Both of these developments are welcome.

If the remaining investment banks, Goldman Sachs and Morgan Stanley, do not get more secure funding in place, they may be acquired or subject to a run too. In the current environment, relying almost exclusively on short-term debt is hazardous, even if a firm or bank has nothing wrong with it.

7) When will the turmoil end?

The inability to secure short-term funding fundamentally comes from having insufficient capital. There are many indicators that the largest financial institutions are collectively short of capital.

One signal is that there were apparently only two bidders for Lehman, when the ongoing value from operating most of the bank was surely far above the $3.60 share price from Friday. Another is the elevated cost of borrowing that banks are charging each other. A third indicator is the reluctance to take on certain types of risk, such as jumbo mortgages, so that the cost of this type of borrowing is unusually high.

The fear of being the next Lehman ought to convince many of the large institutions that, despite however much they already raised, more is needed. It may be expensive to attract more equity financing, but the choice may be bankruptcy or sale. The decision by the Federal Reserve to not cut interest rates suggests the Fed also recognizes that the short-term interest rate is a very inefficient way to address this problem.

Thứ Ba, 16 tháng 9, 2008

Cuộc khủng hoàng tài chính Mỹ sẽ ảnh hưởng đến TG và VN ntnào


TS Vũ Quang Việt (Cục Thống kê LHQ - New York) gửi đến Lao Động những phân tích về nguyên nhân và các diễn tiến của cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay tại Mỹ đồng thời chỉ rõ những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này đến kinh tế toàn cầu và những lưu ý đối với Việt Nam.

Sau khi cứu Bear Stearns, Fed đã phải dồn dập cứu Fannie Mae và Fredie Mac tuần trước, và hiện nay là Lehman, Merrill Lynch, hai công ty tài chính lớn số 4 và số 3 của Mỹ, và công ty AIG, một công ty bảo hiểm lớn nhất Mỹ.

Số tiền bỏ ra để cứu nguy vượt hẳn số tiền bỏ ra cứu Bear Stearns. Tình hình nghiêm trọng đã đưa chỉ số chứng khoán vào hôm thứ hai 15-9 xuống hơn 500 điểm, giảm 4,4%.

Cho đến giờ, không ai có thể tiên đoán được cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ sẽ đi đến đâu, vì những tiên đoán trước đây cho rằng tình hình đã ổn định đều sai cả.

FED ra tay

Việc cứu Fannie Mae và Fredie Mac là cuộc cứu nạn thuộc loại lớn nhất của nhà nước Mỹ sau thế chiến thứ hai. Hai công ty tư nhân Fannie Mae và Fredie Mac, chủ yếu cho vay và bảo hiểm vay nhà đất, mà hiện nay số nợ của họ đã lên tới trên 5.000 tỷ USD, lớn hơn một phần ba GDP của Mỹ, và bằng nửa tổng số nợ địa ốc của cả nước.

Hai công ty này nguyên là công ty nhà nước được lập ra để bảo hiểm các khoản nợ vay nhà của gia đình nghèo và trung lưu, nhưng sau này được các nhà chính trị nhằm mục đích kiếm phiếu đã cho phép mở rộng, rồi tư nhân hóa, nhưng vẫn được coi là có nhà nước đứng sau lưng trợ giúp.

Vì được hiểu ngầm là nhà nước bảo trợ nên hai công ty bành trướng mạnh vào thị trường các loại nợ “rác”, không cần bảo chứng đủ tin cậy, mục đích là làm lợi nhuận nhanh. Các nhà chính trị ủng hộ chúng được tiếng là giúp dân nghèo và trung lưu có nhà cửa, và cũng nhận được tiền ủng hộ ứng cử từ hai công ty trên.

Tín dụng thừa thãi, giá nhà lên cao, và bất chấp cảnh báo, Fed vẫn rất nhiều năm giữ lãi suất thấp để bảo vệ thị truờng chứng khoán, và do đó đẩy giá nhà cửa lên mức phi lý. Khi giá nhà đất xuống, đến nay có đến trên 9% số nợ vay trên mất khả năng chi trả, hai công ty trên cũng bị đẩy tới mất khả năng chi trả. Và vì số nợ quá lớn nhà nước phải trực tiếp can thiệp.

Để cứu Fannie Mae và Fredie Mac, và có thể cần phải dùng ngân sách (tức là tiền thuế của dân) ở mức độ lớn, nhà nước phải truất quyền quản trị và quản lý của ban quản trị hiện nay và tuyên bố sẵn sàng bỏ ra 200 tỷ USD trong việc cứu nạn.

Con số này có thể không đủ vì chỉ bằng 4% phần nợ của hai công ty trên (trong khi đó như đã nói, đã có 9% số nợ trên mất khả năng chi trả và tỷ lệ này vẫn còn tăng và nếu bán tháo để lấy lại tiền thì chưa chắc đã lấy lại được một nửa).

Đây là hình thức quốc hữu hóa dù thực chất chưa rõ ràng. Vì nếu rõ ràng là quốc hữu hóa, thì khi công ty mất khả năng chi trả, giá trị công ty đã âm (vì nợ lớn hơn tài sản có), giá trị cổ phiếu là con số 0 tròn chĩnh, nhà nước có thể lấy quyền sở hữu, đuổi ban giám đốc cũ, thay bằng ban giám đốc mới, và có thể trong tương lai sẽ tư hữu hóa trở lại bằng cách bán cổ phần ra thị trường.

Làm như thế, các cổ phiếu ưu tiên mà Trung Quốc và Ngân hàng và công ty tài chính của các nước khác mua sẽ bị mất sạch và sẽ gây ảnh hưởng lâu dài.

Dường như chính phủ Mỹ vẫn muốn bảo đảm các cổ phiếu ưu tiên này vì kinh tế Mỹ đang phải dựa vào luồng vốn từ nước ngoài đổ vào, từ năm 2004 đã vượt 500 tỷ và hiện nay vào khoảng 800 tỷ; như vậy chỉ có các cổ phiếu thường là mất sạch giá trị. Sắp tới, hình thức quốc hữu hóa như thế nào sẽ tùy thuộc Chính phủ sau Bush quyết định.

Các nạn nhân mới

Một tuần sau khi cứu Fannie Mae và Fredie Mac, ngày thứ hai 15-9-2008, Fed lại đành phải để cho Lehman phá sản. Fed cũng buộc phải đồng ý cho phép công ty chứng khoán và đầu tư tài chính Merrill Lynch, có khoản nợ 900 tỷ, sau khi tuyên bố lỗ 40 tỷ USD, tự cứu bằng cách để cho nhà băng Bank of America mua với giá rẻ một nửa. Còn AIG, một công ty bảo hiểm lớn nhất Mỹ, cũng đang tìm nguồn tài chính tự cứu mình vì những hành động phiêu lưu buôn bán tài chính.

Chiều thứ hai cùng ngày, chính phủ Bang New York nơi công ty AIG đặt đại bản doanh đã cho phép nó mượn 20 tỷ từ các công ty con (bảo hiểm ở tiểu bang) để giúp vốn cho hoạt động đầu tư vào chứng khoán rác, còn Fed thì đề nghị hai công ty tài chính lớn là JPMorgan và Golden Sách bỏ ra 70 tỷ cho AIG vay ngắn hạn. Chưa biết họ có đồng ý không.

Không ai có thể tiên đoán được là tình hình sẽ đi đến đâu vì những tiên đoán trước đây cho rằng tình hình đã ổn định đều sai cả. Lehman vào đầu tháng 7 có số nợ là 600 tỷ và tất nhiên là số chứng khoán tương đương là 600 tỷ, đã phải chịu bán lỗ, thu về 30 tỷ (với giá 20 xu đối với mỗi đồng đô la ghi trên chứng khoán), tưởng như có đủ tiền để giải quyết vấn đề nhưng thực sự không đủ và đến hôm nay thì phá sản.

Nguyên nhân bắt nguồn từ đâu?

Bất ổn tài chính bắt nguồn từ những “phát minh” về tài chính trong thời gian qua, qua đó thế đứng của ngân hàng đã dần dần bị các công ty kinh doanh tài chính đánh đổ dần, trong lúc Fed chỉ được giao nhiệm vụ kiểm sát hệ thống ngân hàng.

Fed đã cứu công ty tài chính Bear Stearns. Dù không thuộc nhiệm vụ của họ, Fed đã vào cuộc với hy vọng là chận đứng được tình hình hoảng loạn tài chính, nhưng thật ra họ đã lầm.

Tình hình khủng hoảng tiếp tục mở rộng và Fed không thể đứng ra cứu tiếp, vì đây không phải là nhiệm vụ của Fed, và về mặt chính trị cũng như khả năng vốn, Fed không thể tiếp tục cứu.

Các công ty tư nhân này đã đòi quyền tự do kinh doanh tài chính làm giầu, không chịu bất cứ sự kiểm soát nào của Fed, thì Fed không thể lấy thuế của dân để cứu chúng. Bơm tiền cứu sẽ đẩy mạnh thêm lạm phát, hiện nay nếu tính theo 12 tháng chấm dứt vào tháng 7 vừa qua thì lạm phát đã là 5,6%, nhưng nếu tính dựa vào 3 tháng qua thì lạm phát đã ở mức rất cao là 10,6% một năm và đang tăng, và không kể thực phẩm và năng lượng thì mức lạm phát tương đương là 2,5% và 3,5%.

Các chuyên gia đều đánh giá rằng lạm phát sẽ tăng trong năm tới. Và như thế khả năng tăng lãi suất cho vay trên thế giới để kiềm chế lạm phát cũng là điều khó tránh. Đây là điều Fed sẽ phải nhức đầu: Tăng tín dụng để cứu nguy các đại gia hay kiềm chế lạm phát?

Phát minh tài chính vừa qua là gì?

Đó là việc tập trung tiền cho vay mua nhà, lấy tiền hoa hồng, rồi chia nhỏ hợp đồng vay nợ này thành các chứng khoán (một loại giấy nợ), rồi bán cho người có tiền (các công ty đầu tư tài chính chấp nhận rủi ro cao, quĩ bảo hiểm, qũi hưu trí và dân chúng), qua đó họ lại ăn thêm hoa hồng. Tiền bán chứng khoán họ đem trả nợ ngắn hạn dùng lúc đầu để cho vay mua nhà. Mọi rủi ro về nợ sau khi bán chứng khoán thuộc về người mua chứng khoán, chứ không phải công ty tài chính. Cái mới là ở chỗ đó: ăn nhiều tiền nhưng mọi rủi ro thì đẩy cho người khác.

Biểu đồ mô tả doanh thu và lợi tức của Lehman Brothers trong 6 tháng qua - Theo AP
Thường thì lãi suất mua nhà là 7%, nhưng vì tình hình vừa qua, chỉ vì muốn tăng lợi nhuận và hoa hồng, các công ty tài chính chẳng cần điều kiện bảo chứng, có thể cho vay tới 100% giá mua nhà với lãi suất 9%. Nếu so với lãi tiền để dành khoảng 2% thì lãi suất trên quả là lớn, lại thêm các khoản dịch vụ phí cho vay đáng kể khác. Và khi người mượn mất khả năng chi trả, thì tất nhiên trong toàn hệ thống số tiền lãi thu được không đủ để chi cho tiền mất vốn này.

Với cách làm trên, các công ty tài chính hy vọng thay thế ngân hàng, bỏ qua sự kiểm soát của Fed, tha hồ mở rộng hoạt động làm giầu, bất chấp các định chế tài chính cần thiết mà Fed áp dụng cho ngân hàng.

Trước cuộc đại khủng hoảng năm 1933, các ngân hàng ở Mỹ cũng không chịu sự kiểm soát nào. Nhưng sau này, Fed, một loại ngân hàng trung ương (NHTU), ra đời đã thiết lập các định chế về cho vay, dự trữ bắt buộc, bảo hiểm tiền ký gửi, và qua đó kiểm tra chặt chẽ hoạt động của ngân hàng nhằm bảo đảm khả năng chi trả của chúng và tất nhiên nếu cần NHTU sẽ đứng ra giải quyết. Vai trò của Ngân hàng Trung ương rất quan trọng bởi vì nếu một ngân hàng thương mại phá sản, tâm lý bày đàn có thể đẩy mọi người có tiền ký gửi rút tiền, đưa đến sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống, nếu không được Ngân hàng Trung ương can thiệp.

Về nguyên tắc, cách làm của công ty tài chính cũng không khác gì ngân hàng, tức là làm trung gian giữa người có vốn và người muốn mua nhà, nhưng quá trình thì ngược, nói chung họ phải là vay nóng, ngắn hạn cho vay mua nhà rồi chia nhỏ thành chứng khoán, bán ra thu hồi vốn để trả lại nợ ngắn hạn. Đáng lẽ người mua chứng khoán phải chịu mọi thiệt thòi, nhưng trớ trêu thay, các công ty tài chính đã không thể bán đi hết các khoản nợ để đổ toàn bộ rủi ro cho người khác.

Tình hình đang đi về đâu?

Khó lòng biết tình hình đi về đâu. Nhưng rõ ràng là có một số vấn đề sẽ tiếp tục xảy ra trong nền kinh tế Mỹ:

• Giá nhà sẽ tiếp tục xuống. Cho đến nay giá nhà ở một số nơi như thành phố New York gần như chưa bị ảnh hưởng. Nhưng với số người trong khu vự tài chính mất việc làm, khả năng xuống giá ở New York là rất cao.

• Lạm phát trong tương lai sẽ tăng cao dù giá xăng dầu xuống vì mức tín dụng được Fed đẩy mạnh để cứu nguy các công ty tài chính và để nền kinh tế không đi vào suy thoái. Điều có thể xảy ra là nền kinh tế suy thoái hoặc phát triển chậm nhưng lạm phát vẫn cao.

• Suy thoái ngày càng mang tính toàn cầu. Thị trường chung Châu Âu (quí hai là 0,1%) và Nhật (quí hai là -0,7%) đã đi vào suy thoái, còn Mỹ thì quí hai bất ngờ tăng 3,3% vì tăng được xuất khẩu, giảm nhập khẩu và tăng chi tiêu quốc phòng. Nhưng điều này sẽ không tiếp tục vì đồng Mỹ đang lên giá trở lại và dấu hiệu chi tiêu của dân chúng sẽ giảm mạnh, nhất là vào tháng 8, số thất nghiệp tăng lên 6,1% và thêm 84 ngàn người mất việc.

• Có thể khủng hoảng tài chính sẽ không xảy ra ở châu Á và châu Âu nói chung, nhưng mất mát tài chính do đầu tư tài chính sang Mỹ sẽ rất lớn, làm ảnh hưởng đến đầu tư nói chung trên thế giới.

Nói chung lạm phát trên thế giới vẫn có khuynh hướng tăng, dù giá dầu tăng hay giảm, vì tình hình tăng tín dụng nói chung.

Lãi suất do đó cũng sẽ phải tăng để chống lại lạm phát. Việc thực hiện các hứa hẹn đầu tư rất ấn tượng vào Việt Nam, do các nước muốn chớp thời cơ tranh chỗ sau khi Việt Nam vào WTO, phần lớn là từ các nước Đông hoặc Đông Nam Á như Đài Loan, Mã Lai, Thái Lan, Singapore, Brunei, …cũng có khả năng khó thực hiện trừ các đầu tư vào lãnh vực dầu hỏa vì không có khả năng tìm ra nguồn vốn tài trợ.

Mọi suy nghĩ ở Việt Nam cần phải tập trung vào bảo đảm ổn định, chấm dứt từ từ lạm phát, chứ không thể tiếp tục theo đuổi con đường tăng GDP một cách ấn tượng với các đầu tư phí phạm, trong khi đa số dân chúng có lương không đủ sống. Việc tăng lương ở khu vực công không phải là không thể nhưng phải được tính toán kỹ lưỡng để không tạo ra lạm phát, như vậy là phải đánh đổi với việc giảm thêm đầu tư của nhà nước.

Theo TS VŨ QUANG VIỆT - Lao Động

Chuyện của người trong cuộc



Xin được đăng lại tâm sự của một nhân viên người Việt đang làm cho Lehman Brothers Úc, với hy vọng bạn sẽ vượt qua những khó khăn và có được những cơ hội tốt hơn cho sự nghiệp

Hôm nay là một ngày khá đặc biệt, và là một trong số ít ngày mình được trở về nhà sớm hơn thường lệ. Ngày công ty tuyên bố phá sản. Chưa bao giờ mình ở trong hoàn cảnh này và có lẽ cũng chưa chuẩn bị tinh thần cho ngày này đến nhanh như thế. Ngồi trên xe buýt về mà cảm giác khó tả, tâm trạng miên man, với nhiều cảm xúc lẫn lộn, buồn, giận, thương, trông chờ ngày mai. Mọi việc diễn ra nhanh chóng ngoài sức tưởng tượng.

Cuộc khủng hoảng tín dụng thật là kinh khủng và dai dẳng. Suốt từ 2007 đến nay, thị trường tài chính luôn bị đe dọa bởi đám mây khủng hoảng tín dụng dẫn đến sụt giảm giá chứng khoán toàn cầu. Hàng loạt ngân hàng đầu tư lần lượt công bố các khoản lỗ khổng lồ. UBS, Merrill Lynch, Citi, Bear Stearns, Lehman và hàng loạt tên tuổi khác đều không nằm ngoài vòng xoáy khủng hoảng. Đã bao lần các chuyên gia phân tích dự đoán cuộc khủng hoảng đã qua, thị trường chứng khoán đã chạm đáy. Mình cũng đã muốn tin như thế nhưng rồi đáy sau lại sâu hơn đáy trước. Bear Stearns chết vào tháng 3 tưởng như đã đặt dấu chấm cho một trong những cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong lịch sử tài chính.

Lehman với thế mạnh trong lĩnh vực chứng khoán bất động sản được cho rằng sẽ chịu tổn thất lớn từ cuộc khủng hoảng tín dụng này. Song với kết quả kinh doanh 2007 khả quan, nhiều người kể cả mình đã tin rằng Lehman có thể vượt qua cơn bão này. Nhưng sự tồi tệ lại đến vào năm 2008 khi lần đầu tiên ngân hàng này báo cáo lỗ trong Q2 và phải huy động thêm 6 tỷ vốn. Cổ phiếu Lehman đã giảm từ đỉnh 80$ vào năm 2007 xuống 20$ trong một thời gian ngắn.

Mới chỉ đầu tuần trước khi thị trường đồn Lehman sẽ lỗ khoảng 4 tỷ trong Q3, giá cổ phiếu đã sụt không phanh. Thực tế Lehman có hàng tuần để đàm phán với KDB nhằm đưa ra được một kế hoạch tăng vốn trước khi thông báo kết quả Q3. Nhưng rồi mọi nỗ lực đàm phán đi vào bế tắc. Có lẽ lúc đó Ban lãnh đạo Lehman vẫn chưa thể nhận thức được mức nghiêm trọng của vấn đề. Thị trường đã phản ứng tiêu cực làm cho giá cổ phiếu giảm 45% trong ngày thứ 3 còn 7.79. Ban điều hành nhanh chóng thay đổi kế hoạch công bố kết quả Q3 sớm hơn 1 tuần từ 17/9 lên 10/9 nhằm ổn định tâm lý thị trường. Một kết quả thực tế sát với dự đoán thị trường Q3 lỗ 3.9 tỷ. Tổng số dự phòng giảm giá lũy kế cho danh mục đầu tư liên quan đến bất động sản lên tới 8 tỷ. Với một danh mục bất động sản rủi ro lên tới 60 tỷ, chiếm 10% tổng tài sản và gấp 3 số vốn chủ sở hữu, cùng với một kế hoạch tái cơ cấu trên giấy thiếu tính khả thi, giá cổ phiếu đã giảm tiếp 7.25 vào ngày thứ 4.

Điều tồi tệ thực sự đến vào ngày thứ 5 khi giá cổ phiếu tiếp tục rớt 43% còn 4.22. Việc Moodys đe dọa hạ định mức tín nhiệm của Lehman đã xóa đi mọi nỗ lực cứu chữa. Việc hạ mức tín nhiệm đồng nghĩa với việc phải thực hiện các "margin call" tăng tài sản đảm bảo cho các giao dịch với khách hàng. Đấy là chưa nói các khách hàng sẽ hạ hạn mức giao dịch với Lehman và chi phí huy động vốn tăng cao. Để đáp ứng margin call thì Lehman sẽ phải đặt thêm tài sản đảm bảo lên đến khoảng 3 tỷ USD. Điều này có lẽ là qua xa xỉ với Lehman tại thời điểm hiện nay. Mặc dù khả năng thanh khoản của Lehman được đánh giá là khá tốt song với các khoản lỗ ngày càng tăng từ danh mục đầu tư liên quan tới bất động sản, việc huy động vốn mới gần như không thể thì sớm muộn Lehman cũng rơi vào rủi ro thanh khoản nếu không có giải pháp chiến lược kịp thời.

Nửa đầu tuần trước mặc dù luôn được cập nhật thông tin nhưng mình và các đồng nghiệp vẫn nghĩ vấn đề là bình thường và có thể giải quyết thông qua M&A. Lịch sử nước Mỹ chưa để một ngân hàng đầu tư như Lehman phá sản. Hậu quả sẽ vô cùng nặng nề. Ai cũng nghĩ như vậy và cho rằng CEO đang tạo áp lực cho FED phải cung cấp vốn giải cứu Lehman.

Nhưng kể từ thứ 5, tâm lý mọi người bắt đầu phân tán và lo ngại. Bắt đầu một ngày mới luôn là cập nhật thông tin trên internet và giám đốc chi nhánh thông báo tình hình. Ngày thứ 6 cp giảm tiếp xuống 3.56 cho thấy tình hình nguy kịch của vấn đề. Mọi người bắt đầu được chuẩn bị tinh thần. Tất cả trông chờ vào điều kỳ diệu cuối tuần khi thông tin BOA và Barclays sẽ đàm phán mua Lehman.

Cuối tuần trôi đi nhanh chóng. Các quan chức của FED và Kho bạc TW cùng các CEO phố Wall được triệu tập tới làm việc liên tục không nghỉ. Đến đêm thứ 7 số phận Lehman được định đoạt khi cả BOA và Barclays đều không tìm được tiếng nói chung với Lehman và Chính Phủ. Các bên mua đặt điều kiện Chính Phủ phải bảo trợ cho các khoản lỗ từ việc mua danh mục rủi ro của Lehman.

Phải nói rằng Chính phủ đặt trong tình trạng tiến thoái lưỡng man khi họ không thể làm gì được. Mới tháng 3, họ tung ra 29 tỷ giải cứu Bears. Tuần trước họ mua lại Freddie Mac và Fannie Mae, 2 tập đoàn cho vay bất động sản lớn nhất của Mỹ và cũng là đứa con của họ. Cổ phiếu 2 công ty này rớt còn 70 -75 cent và Chính phủ sẽ phải bơn hàng trăm tỷ. Trong khi đó vẫn đề lúc này không chỉ có Lehman mà còn hàng loạt tập đoàn tài chính đang chết lâm sàng. ML, AIG và Washington Mutual đều đang nguy kịch. Các anh hùng khác trên phố Wall đều đang bị thương nặng và lo hàn gắn vết thương của chính họ. Vấn đề giải cứu của Chính phủ không những đặt ra vấn đề "moral hazard" mà trong lúc này khi cuộc bầu cử nước Mỹ đến gần thì điều đó càng nghiêm trọng. Đảng Dân Chủ đã gây áp lực đối với Đảng Cộng Hòa về việc lấy tiền thuế của dân đi giải cứu. Chính vì thế Chính phủ cũng lực bất tòng tâm.

Với việc đàm phán cứu Lehman đi vào ngõ cụt, BOA được lệnh cứu ML và cuộc đàm phán lịch sử mua một ngân hàng đầu tư lớn thứ 3 phố Wall chỉ diền ra trong ngày chủ nhật với mức giá 29/ cổ phiếu. Phải nói CEO của ML rất tỉnh táo và nhanh chóng kết thúc được đàm phán một cách thành công. Về phương diện này, Ban lãnh đạo của Lehman thật có lỗi với hàng ngàn cổ đông và nhân viên.

Trở lại chuyện Lehman, đêm qua mình cũng không ngủ được. Tìm thông tin trên mạng rồi đi ngủ lại suy nghĩ miên man. Mình mơ Lehman phá sản nhưng khi tỉnh dậy chỉ đủ thời gian đến văn phòng bắt đầu một ngày làm việc bình thường. Việc đầu tiên là tìm thông tin và bắt đầu xuất hiện tin đồn phá sản. Giám đốc chi nhánh triệu tập cuộc họp khẩn thông báo tình hình và chuẩn bị tinh thần cho anh em. Mặt Ông hôm nay trông buồn và nghiêm trọng cho thấy chuyện chẳng lành. Khổ nổi hôm nay lại ngày nghỉ ở Tokyo và HK. Không khí yên ắng bao trùm. Mọi người check qua email rồi bán tán nhau. Các nhóm to nhỏ vào phòng họp rồi đi ra với các tâm trạng khác nhau. Nhìn vào chat nội bộ thấy mấy đồng nghiệp bên Mỹ vẫn sáng đèn vào tối chủ nhật, mình gửi chat hỏi thăm tình hình nhưng không nhận được hồi âm. Mình chạy sang bên sàn trading hỏi thăm tình hình. Thấy nói các đối tác đã ngừng giao dịch với Lehman rồi. Các trader không được thực hiện giao dịch mới mà chỉ được phép unwind các position hiện tại. Một người nói các đồng nghiệp bên Mỹ đang đến văn phòng dọn đồ. Mọi việc đã an bài. Mọi người chạy ra quán bia nhậu nhẹt, hàn huyên. Câu hỏi đầu tiên ai cũng quan tâm là "Bạn có đang mua nhà trả góp không?" Có lẽ ở nước ngoài người ta sợ nhất khi mất việc là phải trả tiền vay mua nhà. Điều đó cho thấy họ rất lo mất việc.

2h chiều, công ty mua bia lên văn phòng làm một bữa tiệc chia tay đơn giản nhưng cảm động. Mọi thứ diễn ra hết sức chóng vánh. Không có nhiều phát biểu bởi lúc này công ty như rắn mất đầu. Các bác sếp chi nhánh cũng không thực sự điều gì đang xảy ra với các bác.

Những phút sau đó là việc mọi chìm xuống. Mình nhận được thư chia tay của các bạn văn phòng khác. Mặc dù chưa có thông tin chính thức nhưng mình cũng viết thư chia tay mọi người các văn phòng khác nhau. Mọi người đóng gói và chuẩn bị ra về không biết ngày mai có cần đến văn phòng nữa hay không. Vào đọc báo nhìn cảnh một số đồng nghiệp ở NY chào nhau ra về, đeo ba lô với màu xanh truyền thống của Lehman thật cảm động.

3h chiều chính thức có thông tin công ty sẽ nộp đơn phá sản theo Chương 11 Luật phá sản của Mỹ, đánh dấu sự sụp đổ của một định chế tài chính 158 năm tuổi., một sự kiện chấn động giới tài chính toàn cầu.

Chỉ sáng mai thôi khi các đồng nghiệp NY, London, Tokyo, Hồng Kông đến văn phòng sau ngày cuối tuần nghỉ, họ sẽ là người mất việc làm. 27 ngàn con người bị thất nghiệp trong lúc thị trường tài chính khủng hoảng. Cùng một lúc hàng ngàn chuyên viên tài chính đi xin việc tại các trung tâm tài chính thật không dễ dàng. Sau lưng họ còn là gia đình, còn tiền nhà trả góp. Giá cổ phiếu sẽ giảm về con số 0, các cổ đông sẽ trắng tay. Các đối tác sẽ có thể không thu hồi được tài sản từ Lehman. Hàng loạt các model, các hệ thống phức tạp và cả một thương hiệu tạo dựng được sau 158 năm sẽ về số 0 tròn trĩnh. Hậu quả thật là khốc liệt.

Vừa buồn, vừa giận mà thương CEO Dick Fuld. Ông ấy đã gắn bó 2/3 quãng đời để xây dựng Lehman thành một ngân hàng đầu tư thứ 3 phố Wall với nhiều thành tích đáng nể. Ông đã không đủ nhanh nhậy để có thể kết thúc đám phán cứu được Lehman, thành quả của Ông sau 4 thập kỷ gắn bó. Ông sẽ về hưu ở tuổi 62 cùng nắm cổ phiếu không còn giá trị, nhưng hãy nhìn 27k con người đã cùng Ông làm nên thương hiệu Lehman. Hãy nhìn các cổ đông và khách hàng. Hãy nhìn những tài sản vô hình của công ty. Chẳng nhẽ không còn giải pháp nào tốt hơn cách Ông đã chọn hoặc không còn sự lựa chọn?

Chúc Ông và các đồng nghiệp những điều tốt lành nhất ở phía trước. Cuộc sống là như thế.

Huy Mac (15/9)

BBC: Cú sốc cho Phố Wall
Cảnh sát phong tỏa trụ sở ngân hàng tại New York
Cảnh sát phong tỏa trụ sở ngân hàng tại New York
Công ty mẹ của tập đoàn ngân hàng đầu tư lớn thứ tư Hoa Kỳ là Lehman Brothers nói họ định nộp đơn xin bảo vệ khi bị phá sản.

Sau một loạt các diễn biến lớn tại thị trường tài chính Wall Street ở Hoa Kỳ, ngân hàng 158 năm tuổi đã bị thua lỗ lớn từ thị trường cho vay mua nhà ở Mỹ, nói rằng họ đang xin được bảo vệ theo Chương 11 hỗ trợ giới công ty bị phá sản.

Lịch sử huy hoàng

Vào năm 1844 Henry Lehman, người Đức nhập cư vào Hoa Kỳ mở một công ty tài chính khá sầm uất tại thành phố Montgomery ở Alabama.

Sáu năm sau hai em trai là Emanuel và Mayer tiếp sức và Lehman Brothers trở thành tên của ngân hàng này.

Kể từ đó Lehman Brothers đã tồn tại qua cả hai thế chiến và sự kiện thị trường chứng khoán Hoa Kỳ sụp đổ năm 1926 và cuộc khủng hoảng dầu lửa hồi thập niên 1970.

Thế nhưng tập đoàn này cuối cùng đã trở thành nạn nhân của cuộc khủng hoảng thị trường cho vay mua nhà trả góp tại Hoa Kỳ với khoản thua lỗ là 7 tỷ đôla.

Gulperi Furtun, Phó Chủ tịch Ban Quản lý Tài sản nói nay thời điểm đáng buồn:

Bà nói rằng lịch sử ngân hàng 158 năm tuổi cùng các nỗ lực lớn là một phần làm cho bà thấy buồn nhất.

Phong tỏa

Cảnh sát đã phong tỏa trụ sở chính của Lehman Brothers tại New York và người qua đường đứng xem nhân viên rời tòa nhà với các hộp các tông đựng tài liệu và đồ nghề.

Công ty mẹ của Lehman Brothers đã nộp đơn xin bảo hộ phá sản theo Chương 11 sau khi không bán được ngân hàng này cho hai ứng viên nhiều khả năng muốn mua là ngân hàng Barclays của Anh và ngân hàng Bank of America của Hoa Kỳ.

Việc nộp đơn xin bảo hộ phá sản có nghĩa là nhiều hoạt động của Lehman như mua bán chứng khoán và quản lý tài sản vẫn tiếp diễn cho tới khi tìm được đối tác mua lại ngân hàng này.

Trong một diễn biến khác, tin cho hay công ty môi giới tài chính lớn nhất thế giới là Merrill Lynch đã đồng ý để Bank of America mua lại với giá 50 tỷ đôla và tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới AIG đang tìm cách trợ giúp khẩn cấp khoảng 40 tỷ đôla từ Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ.

Đây là biến cố nửa thế kỷ hoặc thậm chí cả thế kỷ mới xảy ra một lần
Alan Greenspan

Vào hôm Chủ nhật, cựu Chủ tịch Ngân hàng Trung ương Alan Greenspan đánh giá các vấn đề khu vực tài chính đang đối diện

Ông nói: "Đây là biến cố nửa thế kỷ hoặc thậm chí cả thế kỷ mới xảy ra một lần. Chắc chắn rằng đây là quá trình vượt quá mọi thứ tôi từng chứng kiến. Mọi chuyện chưa hẳn đã xong và còn bất ổn cho tới khi giá dầu tại Hoa Kỳ được ổn định”.

Còn Jeremy Batsone-Carr từ công ty môi giới chứng khoán Charles Stanley nói các ngân hàng trung ương và chính phủ chậm ra tay ứng phó:

Ông nói đây là cuộc khủng hoảng mà cường độ ra tăng trong 18 tháng qua. Xét về các diễn biến thì có thể thấy nhà chức trách tháo gỡ thực tế hơn là có hành động đón đầu.

Khu tài chính Wall Street thay hình đổi dạng với các tập đoàn tài chính từ nhân và các công ty kinh doanh chứng khoán tuyên bố đưa thêm vốn mới khoảng 70 tỷ đôla nhằm giảm gánh nặng thiếu tín dụng.

Ngân hàng Trung ương cũng như Bộ tài chính Hoa Kỳ cũng đang tạo điều kiện cấp tín dụng khẩn để hỗ trợ cho các định chế tài chính.

Thứ Sáu, 12 tháng 9, 2008

BẢN KIỂM ĐIỂM CÁ NHÂN


Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc



-----------o0o--------------



BẢN KIỂM ĐIỂM CÁ NHÂN

Kính gửi: Hội đồng xét xử - Tòa án Lương tâm Tối cao (Đứng đầu là vợ cùng gia quyến đằng ngoại).

Đồng kính gửi vợ mến thương.

Tên tôi là: ...........................................................

Sinh ngày: .…/. …/ 19…..


Địa chỉ: …………………………………………

Chức vụ: Là chồng hợp pháp của vợ tôi, có dấu đỏ cùng chữ ký đàng hoàng, hợp lệ trong giấy đăng ký kết hôn.

Tôi xin trình bày trước toàn thể hội đồng, cơ quan đại diện hành pháp của pháp luật. Trước người vợ thân yêu của tôi, bầu trời của tôi, vầng thái dương trong đêm, ánh sao tỏa sáng ban ngày của tôi. Chiểu theo Chương, Mục, Khoản, Điều và một số nội quy, quy định của gia đình, hai bên vợ chồng đã thống nhất ký kết với nhau, thì tôi đã vi phạm kha khá lỗi.

Nay xin được thành khẩn khai báo, rất mong được hưởng lượng khoan hồng, để tôi có cơ hội cải tà quy chính quay về chính nghĩa, với vợ, với con.

Từ khi kết hôn đến giờ, tôi đã có những lỗi mà vợ đã, chưa và sắp biết, sau:

1. Chuẩn bị cho đám cưới, còn đang bề bộn nhiều việc phải lo toan, tiền vay còn không đủ chi tiêu, tôi lại mang tiền đi cho đứa bạn thân vay, đoạn này xin phép giơ tay có ý kiến giải thích luôn:

Mọi việc đều có lý do của nó, bạn tôi quá khó khăn, cùng quẫn nên mới muối mặt đến gặp tôi, thôi thì mình chịu khó thiếu thốn một tí, bởi nhìn bạn chí cốt trong hoàn cảnh ấy tôi không thể cầm lòng được. Vợ chả từng nói với tôi, con người phải có lòng nhân ái, sống trên đời cần có một tấm lòng là gì. Tôi sẽ rút kinh nghiệm từ sau làm việc gì cũng sẽ cân nhắc và bàn bạc với vợ thêm.

2. Tội thứ hai của tôi là dám lẩm bẩm thương thằng bạn, “sao vợ nó lại đau đẻ vào đúng trận chung kết World Cup bao giờ - nhẫn tâm quá, tàn tệ quá!”. Thực ra với fan cuồng nhiệt của bóng đã như chúng tôi, đó chỉ là câu nói đùa, nhất thời chưa suy nghĩ thấu đáo, mong vợ cùng hội đồng rủ lòng thương mà bỏ quá cho.

3. Lần tôi nói để quên điện thoại trong cốp xe, vợ gọi đến, hết pin rất đúng lúc, mà sau vợ phát hiện ra sự thực là khi ấy tôi đang nâng chén với các chiến hữu, khao kiểu đầu tôi mới cắt từ ... tuần trước, nên tắt máy. Lỗi tương đối to và tôi đảm bảo sẽ không dám tái phạm, dối lừa vợ lần nữa.

4. Hôm đó quả thật tôi có nhìn chăm chú cô gái mặc váy xanh, đi dép cao gót có nơ đỏ lướt ngang qua, tôi tả kỹ vậy chỉ để vợ thấy rằng, mọi việc không như vợ nhìn thấy và tưởng tượng đâu, tôi chú ý đến cô ta chỉ bởi tôi tự nhủ, sao có người lại ăn mặc kém hài hoà, thiếu trang nhã đến thế, sao không đến mà học tập vợ tôi. Sự thực là thế đấy, nhưng thôi được, từ sau tôi sẽ không can thiệp vào gu ăn mặc của những người kém cỏi hơn vợ tôi quá thể.

5. Hôm đến chơi nhà bạn thân của vợ, tôi đã không thể nghĩ được rằng tôi tìm được người bạn tri kỉ, hiểu và hợp mình nhường ấy, cũng như vợ chơi thân với cô bạn thì tôi cũng cảm thấy tâm đắc với chồng cô ấy thôi. Tôi biết lỗi là hôm đó tôi quá chén, chưa bao giờ tôi uống nhiều đến thế. Song vợ thử nghĩ mà xem, cũng như vợ ăn nói dễ nghe, có khiếu trò chuyện rất cuốn hút người khác, họ cứ muốn tâm sự, kể chuyện cùng vợ, chả lẽ vợ chặn họng họ, phủi quần đứng lên và nói: “Thôi im đi để tôi về” à? Thực ra tôi cũng có cái khó của tôi, anh ấy nhiệt tình quá! Nhưng tôi sẽ rút ra bài học, nên biết khéo từ chối, không sa đà vào rượu chè nhiều nữa. Đau đầu và hại người lắm!

Tôi xin cam đoan những lời tôi thú nhận trên là hoàn toàn đúng sự thật. Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và chịu án phí cao nhất do lương tâm phán quyết.

Nếu ai phát hiện ra thêm tôi sẽ kiểm điểm tiếp. Tôi hứa và quyết tâm sẽ không để những sự việc rất rất đáng tiếc kia xảy ra lần thứ hai.

Nếu tái phạm, sẽ bị quy vào tội ngoan cố và dám to gan ngụy biện - Nặng thêm một bậc.

Kính mong hội đồng xét xử và vợ yêu quý, ban hành án xử phạt nhẹ nhẹ một chút. Giơ cao đánh khẽ là đủ để tôi biết điều, biết sợ và biết nể vợ hơn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người chồng chân thành

(Ký tên, điểm chỉ)

New ideals

How I plan to stay employed for the next 10 years
From: toryhargro, 1 day ago





SlideShare Link